Ăn dặm kiểu Canada

Khi chuẩn bị cho Chíp ăn dặm, ngoài việc được cô y tá chăm sóc hai mẹ con từ hồi mang thai Chíp tư vấn rất cụ thể, HA còn đọc thêm một số tài liệu hay và nhất là trực tiếp tham gia lớp học cách làm đồ ăn dặm cho bé của Canada. Nhờ vậy mình cũng biết được một số điểm mấu chốt trong cách cho ăn dặm bên này. Mục đích của bài viết là đưa đến mọi người thông tin GỐC về PP ăn dặm mới nhất hiện nay cũng như những kinh nghiệm thực tế mà HA có được trong quá trình nuôi Chíp. Hãy xem xét, so sánh, đối chiếu, thử nghiệm và cuối cùng là rút ra cho mình PP phù hợp nhất.

Nên nhớ không có gì là chuẩn mực. Mỗi bà mẹ có quan niệm, tính cách, điều kiện sống khác nhau. Mỗi em bé cũng có khả năng ăn uống và khẩu vị không giống nhau. HA chỉ hi vọng những thông tin tiếp theo sẽ là nguồn THAM KHẢO đáng tin cậy và hữu ích cho những ai đã, đang và sẽ cho con ăn dặm.

Trước khi bắt đầu, mọi người hãy dành chút thời gian để suy nghĩ xem điều gì thực sự là quan trọng với mình trong quá trình cho con ăn dặm? Cân nặng và chiều cao phát triển thật tốt? Con ăn đa dạng tất cả các loại thực phẩm, các món của các vùng miền, dân tộc khác nhau? Con có thói quen ăn uống khoa học, lành mạnh và độc lập? Tất nhiên những điều kể trên ai cũng muốn có hết, song mỗi gia đình lại có một thứ tự ưu tiên nhất định, và điều này ảnh hưởng khá lớn đến PP tập ăn dặm cho con.

Sau đây là những nét chính trong cách cho ăn dặm của người Canada:

a. Thời điểm bắt đầu cho ăn dặm :

Người VN và cả người phương Tây cách đây vài chục năm từng quan niệm rằng nên cho trẻ ăn dặm từ 4, thậm chí 2-3 tháng tuổi. Song sau rất nhiều nghiên cứu, khuyến cáo mới nhất của WHO và hầu hết các nước tiên tiến là chỉ bắt đầu cho con ăn dặm khi bé tròn 6 tháng tuổi. Trong mọi trường hợp nhất định không được cho ăn trước 4 tháng tuổi. Tại sao ?

–        Trước 6 tháng tuổi, sữa mẹ/ sữa công thức (từ đây gọi chung là sữa) cung cấp tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết cho bé. Mọi thức ăn đều ít dinh dưỡng hơn sữa. Vì vậy nếu cho ăn sớm chỉ làm giảm lượng sữa hấp thu, từ đó làm giảm lượng dinh dưỡng đưa vào cơ thể bé. Từ 6 tháng tuổi, nhu cầu dinh dưỡng của bé bắt đầu thay đổi và sữa không còn đáp ứng đủ nhu cầu này nữa, đặc biệt là nhu cầu về chất sắt (HA sẽ nói kỹ hơn ở phần tiếp theo). Vì thế, đây là thời điểm thích hợp để bắt đầu ăn dặm.

–        Từ 6 tháng tuổi, cơ thể bé mới đủ trưởng thành và sẵn sàng cho việc ăn dặm. Cụ thể : nước bọt và các enzyme tiêu hóa thức ăn được sản xuất đủ, thận trưởng thành, hệ miễn dịch khỏe hơn nên khả năng bị dị ứng thức ăn giảm đi đáng kể.

Tất nhiên, lí tưởng là đợi đến khi bé tròn 6 tháng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, ví dụ vì lí do nào đó sữa mẹ đột ngột giảm sút về lượng và chất, hoặc nhu cầu của bé quá lớn so với lượng dinh dưỡng mà sữa mang lại (bé tăng cân không đủ, đòi bú mẹ liên tục, đói ngay sau khi bú, thức dậy đêm đòi ăn, uống hơn 1200ml/ngày nếu bú bình) thì có thể xem xét cho bé ăn dặm trước 6 tháng, song không bao giờ được cho ăn trước 4 tháng. Việc này cần hết sức thận trọng và phải có đánh giá của BS chứ không nên tự ý cho con ăn dặm sớm. Dù các bà mẹ có háo hức cho con ăn dặm đến mấy thì cũng nên nhớ rằng ăn là việc mỗi ngày, em bé còn cả đời để thưởng thức các món ăn ngon. Riêng thời điểm bắt đầu sẽ không quay trở lại, cho ăn sớm là hại bé. Hãy để hệ tiêu hóa của bé có thời gian hoàn thiện trước khi bắt đầu việc cả đời này.

Ngược lại, cũng không nên để quá muộn (sau 7 tháng) mới bắt đầu vì như vậy bé sẽ thiếu hụt dinh dưỡng. Việc tập chậm cũng có thể gây khó khăn cho bé khi làm quen với thức ăn và cách ăn, vd: việc nhai, nuốt, ăn bằng thìa…

b. Dấu hiệu bé sẵn sàng ăn dặm :

–        Bé được 6 tháng tuổi (+- một vài ngày)

–        Bé ngồi vững trên ghế ăn không cần đỡ

–        Cổ cứng, biết lắc đầu quay đi nếu không thích

–        Bé mất dần phản xạ đẩy thức ăn ra ngoài của trẻ sơ sinh (extrusion reflex), khi đưa thức ăn vào miệng bé biết ngậm môi, dần dần biết dùng lưỡi đẩy thức ăn vào trong để nuốt.

–        Bé có hứng thú với thức ăn: nhìn chăm chú, giơ tay đòi, nuốt nước bọt…

c.      Quá trình tập ăn dặm của Canada :

Nếu như người Nhật tập ăn dặm trong hơn 1 năm (5 đến 15 tháng) thì ở Canada, quá trình tập ăn dặm chính thức chỉ kéo dài vẻn vẹn 6 tháng (6-12 tháng). Sau 1 tuổi bé ăn như người lớn.

4 giai đoạn ăn dặm của người Canada như sau :

  • Giai đoạn 1: Tháng thứ 7 (1 tháng)
  • Giai đoạn 2: Tháng thứ 8 và 9 (2 tháng)
  • Giai đoạn 3: Tháng thứ 10,11 và 12 (3 tháng)
  • Giai đoạn 4: Từ 1 tuổi

Tuy nhiên, theo HA thì 9 tháng là bước ngoặt rất lớn trong quá trình tập ăn dặm, cả về độ thô, khẩu phần thức ăn và cách chế biến. Nếu như 6-9 tháng là khoảng thời gian bé tập làm quen, các loại thức ăn đa số được nghiền nhuyễn, ăn từng thứ một riêng biệt hoặc kết hợp đơn giản với nhau, lượng thức ăn ít do sữa vẫn là thức ăn chính; thì sau 9 tháng, ăn dặm dần trở thành nguồn dinh dưỡng quan trọng, bé ăn được nhiều thứ hơn, giống người lớn hơn cả về nội dung và hình thức, việc chế biến món ăn vì thế cũng cầu kỳ hơn. Sau 1 tuổi, bé ăn được nốt những thứ “bị cấm”. Lúc này bé có thể ăn gần như người lớn, chỉ khác đôi chút là phải ninh mềm, thái nhỏ vì bé chưa có nhiều răng.

Trong mỗi giai đoạn bé ăn gì, ăn bao nhiêu, độ thô ra sao, HA sẽ nói kỹ hơn trong phân mục thời gian tương ứng ở những bài tiếp theo.

d. Thức ăn đầu tiên :

Mỗi dân tộc cho trẻ ăn một thứ khác nhau. Với người  châu Á, đó thường là bột gạo, cháo. Với người Pháp, đó là rau và trái cây. Còn với người Mỹ, Canada, đó là bột ngũ cốc ăn liền (cereal). Tất nhiên mỗi trường phái đều có những lý lẽ về văn hóa & khoa học kiểm chứng để bảo vệ cho quan niệm của mình.

Theo người Mỹ và Canada, lí do chính để bắt đầu với cereal, đặc biệt là ngũ cốc gạo, ngoài việc nó giàu năng lượng, mùi vị nhẹ gần với sữa, là để bổ sung sắt. Tại sao sắt lại là vấn đề được quan tâm nhiều như vậy ?

Trước hết cần phải biết đây là khoáng chất vô cùng quan trọng vì nó có nhiệm vụ chở oxy từ phổi đến toàn bộ cơ thể, giúp tạo tế bào hồng cầu, giúp các tế bào trong cơ thể hoạt động và giúp não phát triển. Sáu tháng đầu đời, em bé sử dụng nguồn sắt dự trữ từ khi sinh ra, cộng với một phần nhỏ sắt từ sữa mẹ hoặc sữa công thức. Sau 6 tháng, nguồn sắt dự trữ trong cơ thể bé đã cạn kiệt, lượng sắt trong sữa không đủ nên buộc lòng phải bổ sung bằng thức ăn bên ngoài. Vì hai năm đầu đời là khoảng thời gian não phát triển mạnh mẽ nhất, nhu cầu về sắt của em bé từ 7 đến 12 tháng thậm chí nhiều hơn nhu cầu của một người trưởng thành.Thiếu hụt sắt là thiếu hụt dinh dưỡng thường gặp nhất ở trẻ nhỏ. Các nghiên cứu cho thấy có đến 20% trẻ em dưới 1 tuổi bị thiếu hụt sắt. Tác hại tức thời của vấn đề này là hiện tượng mệt mỏi, yếu ớt, kém vận động. Thiếu hụt sắt nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển trí tụê của trẻ.

Trong thức ăn có 2 loại sắt : « heme iron » (có nhiều trong các loại thịt đỏ, gan động vật, thịt gà nhất là phần đùi và cá) và « non-heme iron » (cereal loại bổ sung sắt, bánh mỳ và mỳ Ý nguyên cám hoặc có bổ sung sắt, các loại đậu đỗ, trái cây khô, rau lá sẫm và trứng). Trong đó, « heme iron » cơ thể dễ hấp thụ hơn. Tuy nhiên, khi bắt đầu ăn dặm, bé chưa được ăn các loại thịt cá ngay, các loại bánh mỳ, mỳ Ý, rau lá sẫm… cũng vậy. Cho nên, chỉ có duy nhất một loại thức ăn là bột ngũ cốc ăn liền có bổ sung sắt có thể đáp ứng nhu cầu này của bé. Thậm chí Canada khuyên vẫn tiếp tục cho bé ăn cereal đến 2 tuổi, cùng với các thức ăn khác. Chú ý, khi bé ăn được đa dạng, nếu cho trẻ ăn các loại thịt đỏ, gà, cá và/hoặc các thức ăn chứa vitamin C (súp lơ trắng/xanh, ớt chuông, dưa vàng, xoài, kiwi, dâu, cam, quýt, bưởi, cà chua …) cùng với các thức ăn chứa « non-heme iron », cơ thể sẽ tăng khả năng hấp thụ loại sắt này lên đến 4 lần.

Cereal có nhiều loại : gạo (rice), lúa mỳ (wheat), lúa mạch (barley), yến mạch (oatmeal), ngô (corn), đậu nành (soya), vv…  Người Canada thường khuyên cho trẻ ăn ngũ cốc gạo (rice cereal) đầu tiên vì ngũ cốc này ít gây dị ứng nhất. Như vậy, người châu Á cũng có lý khi cho ăn bột gạo xay/cháo trước, tất nhiên là ngoài vấn đề văn hóa. Tuy vậy, rice cereal đóng gói có 2 ưu điểm vượt trội so với cháo/bột gạo. Một là gạo nguyên thủy đã được chế biến để trở nên dễ tiêu, dễ hấp thụ hơn bởi cơ thể non nớt của bé. Hai là trong các loại cereal đóng gói nói chung và rice cereal nói riêng đều có bổ sung nhiều loại vitamin và khoáng chất, trong đó quan trọng nhất là sắt. Một số loại còn bổ sung probiotics, tốt cho hệ tiêu hóa của bé.

Cũng có một số quan điểm không đồng tình với việc cho ăn cereal đầu tiên, ví dụ : e ngại vấn đề béo phì, nghi ngờ việc nguồn dự trữ sắt của trẻ cạn kiệt vào khoảng 6 tháng, một số ảnh hưởng không tốt của tinh bột đến sức khỏe trẻ (hiếm). Tuy nhiên, hiện nay chưa có một nghiên cứu nào đủ lớn để bác lại hoàn toàn quan niệm này và theo hướng dẫn mới nhất của Canada vào năm 2011, ngũ cốc gạo vẫn là chọn lựa số 1 cho thức ăn dặm đầu tiên của trẻ. Chú ý cho ăn từng loại ngũ cốc riêng lẻ trước khi ăn loại trộn hỗn hợp các ngũ cốc khác nhau hoặc ngũ cốc trộn trái cây.

Quyết định cuối cùng  là ở mỗi người. Riêng HA thấy ngoài những điều phân tích ở trên, việc ăn cereal gạo còn có một ưu điểm nữa là có thể trộn chung với sữa (bột ngọt) để tăng lượng sữa trong khẩu phần ăn của bé một cách đáng kể, điều này khá cần thiết khi bé bắt đầu ăn dặm và giảm bú sữa dần dần. Thêm nữa, rice cereal dễ dàng trộn được với các loại rau củ quả, thịt cá để tạo thành những món ăn ngon miệng, dễ nuốt các kiểu Âu Á khác nhau (bột mặn).

Người Canada khuyên sau cereal, nên cho ăn rau củ (bí đỏ, bí ngòi, khoai lang, càrốt, đậu côve xanh/vàng) trước trái cây (chuối, lê, táo, đào) vì một số trẻ quen ăn trái cây ngọt sẽ bỏ rau. Các sản phẩm giàu đạm như : thịt, cá, trứng, phomát, sữa chua nên cho ăn sau cùng.

e. Cách cho ăn thức ăn mới :

Cho bé ăn đồ mới khi bé khỏe mạnh, vui vẻ, tỉnh táo, không có xáo trộn về thể chất (ốm đau, mọc răng, nôn trớ …) và tinh thần (xa mẹ, cai sữa, tập ngủ, mới đi nhà trẻ…). Thời điểm ăn món mới tốt nhất là ban ngày, một là bé tỉnh táo hơn, hai là nếu có vấn đề dị ứng thì dễ dàng theo dõi và xử lý hơn ban đêm.

Thức ăn đầu tiên phải thật lỏng, chỉ đặc hơn nước một chút thôi. Cho bé ăn thử một tí bằng thìa mềm. Nếu bé không thích thìa thì có thể rửa tay sạch và chấm ít thức ăn cho bé mút. Những bữa đầu bé chỉ ăn được ½ đến 1 thìa café mà thôi, dần dần sẽ tăng lượng, thức ăn cũng đặc dần lên (xay nhuyễn – nghiền nhỏ lợn cợn – băm, cắt miếng nhỏ – nguyên miếng). Cho bé uống nhiều nước lọc sau mỗi bữa ăn, hạn chế uống trong lúc ăn để tránh đầy bụng.

Mỗi lần chỉ cho ăn 1 loại thức ăn mới và cho ăn liên tục ít nhất 3-7 ngày để xem bé có bị dị ứng hay không. Đối với gia đình không có tiền sử dị ứng thì chỉ cần cho ăn liên tục 2 ngày (3 món mới/ tuần), nếu bình thường là được vì đa số các triệu chứng nặng sẽ xuất hiện trong vài tiếng đồng hồ sau ăn. Các triệu chứng dị ứng bao gồm : khóc, tiêu chảy liên tục ; táo bón, máu trong phân hoặc phân màu đen; nôn mửa thành vòi ; da nổi mẩn, sưng đỏ ; khó thở, hen ; sưng phồng môi, lưỡi, họng ; tăng cân chậm, thiếu máu ; kích động, khó ngủ.

Không ép nếu bé không thích một loại thức ăn. Theo nghiên cứu mới nhất, bé cần từ 16 đến 20 lần nếm mới thực sự biết mình có thích món đó hay không. Vì thế đừng ngạc nhiên nếu hôm nay bé thích món này, mai bé lại ghét. Nếu bé không thích, hãy dừng lại và thử lại vào những lần tiếp theo.

Dừng lại khi bé đã no và không muốn ăn nữa (dựa lưng vào ghế, mất tập trung, ngậm chặt miệng, quay đầu đi khi đưa thức ăn đến…). Việc này không phải lúc nào cũng dễ dàng vì tâm lý làm mẹ ai cũng muốn con ăn nhiều. Nhưng thực sự là nên làm như vậy để bộ máy tiêu hóa của bé không phải làm việc quá sức, bé cũng không mất hứng thú với việc ăn uống hoặc có ác cảm với một loại thức ăn nào đó. Nên nhớ trẻ con rất biết mình đã no hay chưa, có thích ăn hay không. Đừng làm mất khả năng tự nhiên này của bé.

f.    Cách chế biến, bảo quản, sử dụng đồ ăn dặm :

Ở các nước tiên tiến, trên thị trường có rất nhiều đồ ăn làm sẵn cho trẻ. Những đồ ăn này được sản xuất theo quy trình vô cùng nghiêm ngặt nên có thể hoàn toàn yên tâm về vấn đề vệ sinh, an toàn và cả thành phần dinh dưỡng. Tuy nhiên, vì tiện lợi nên giá thành thường đắt, lại không thơm ngon như đồ tự nấu.

Nếu có điều kiện mọi người nên tự mình làm đồ ăn cho bé. Như vậy có rất nhiều ưu điểm như : nguồn thức ăn phong phú, đa dạng, mình hoàn toàn chủ động trong quá trình chọn lựa và chế biến thức ăn cho bé; bé được ăn nhiều món các kiểu Âu Á khác nhau; mùi vị thức ăn thơm ngon và đúng kiểu nấu của gia đình hơn ; bé cũng có dịp biết đến mùi vị thực sự của từng loại thức ăn (thức ăn làm sẵn mùi vị thường có nhiều biến đổi) ; giá trị dinh dưỡng và khẩu phần ăn luôn đảm bảo; tiết kiệm chi phí.

Nấu ăn cho bé thực ra là một công việc khá đơn giản. Nếu biết tính toán, sắp xếp thì hoàn toàn không mất nhiều thời gian và công sức. Người VN mình thường nghĩ phải đi chợ mỗi ngày, phải mua đồ tươi cho bé thì mới ngon và bổ. Đặc biệt rất có ác cảm với đồ hộp, đồ đông lạnh. Có lẽ điều này xuất phát từ thực tế điều kiện mua bán, chế biến và bảo quản thức ăn ở VN (rau trái hái xong, gia súc mổ xong bán tươi ngay ở chợ ; đồ hộp và đồ đông lạnh không đảm bảo chất lượng, quy trình sản xuất lạc hậu ; vấn đề an toàn thực phẩm nói chung rất đáng ngại…). Tuy vậy vẫn có những thực tế khoa học  chứng minh quan điểm của người VN không hẳn đúng. Cái này HA sẽ phân tích kỹ hơn ở phần sau. Chỉ biết là nếu nguồn thức ăn đảm bảo, chế biến và bảo quản đúng cách thì hoàn toàn có thể nấu một lần rồi cấp đông dùng dần một cách an toàn, lại vẫn giữ được hương vị và thành phần dinh dưỡng trong thức ăn.

Điều quan trọng nhất, mọi người sẽ thấy mình tiết kiệm được cực kỳ nhiều thời gian để dành cho những việc khác có ý nghĩa hơn như chơi đùa, dạy dỗ bé. Hoàn toàn không có chuyện sáng trưa, chiều, tối suốt ngày nấu nấu nướng nướng. Giả sử mình không có nhà thì vẫn yên tâm bé được ăn thức ăn bổ dưỡng và đủ khẩu phần. Bé lại được ăn đổi món liên tục mỗi ngày, thậm chí là mỗi bữa. Không có chuyện sáng cháo, trưa cũng cháo, tối vẫn cháo. Bất kỳ khi nào cần đều có sẵn đồ ăn mới cho bé. Cái này giúp mẹ vô cùng đỡ vất vả trong giai đoạn bé ốm đau, nôn trớ nhiều…

Vậy thì người Canada làm đồ ăn dặm cho bé như thế nào ? Nguyên tắc chung rất đơn giản: Thức ăn mua về làm sạch (gọt vỏ, bỏ hạt, bỏ xương, bỏ da và mỡ…), cắt miếng (tùy giai đoạn mà to nhỏ khác nhau) rồi đem nấu chín bằng nhiều cách với nhiều loại lá gia vị. Sau đó nghiền bằng máy xay điện, cối xay tay, nĩa hay cắt miếng, cắt khúc. Thường làm nhiều một lần rồi chia thành từng phần nhỏ để cấp đông. Khi dùng sẽ rã đông và cho trẻ ăn.

Sau đây là hướng dẫn chi tiết :

Chế biến : Có 2 vấn đề được quan tâm nhất khi chế biến đồ ăn cho bé, đó là vấn đề vệ sinh, an toàn và việc hạn chế sự thất thoát vitamin. Dù môi trường ở Canada vô cùng sạch sẽ : nước máy uống được ; thức ăn tươi ngon, đảm bảo an toàn; khí hậu khô, thoáng và mát mẻ, song người ta vẫn hết sức cẩn thận khi chế biến và bảo quản đồ ăn dặm. Có một số nguyên tắc chung như sau :

–        Chọn thức ăn tươi ngon, nguồn gốc an toàn, rau củ trái cây đúng mùa. Nếu có điều kiện có thể cho bé ăn thức ăn hữu cơ (organic), tức là không thuốc kích thích tăng trưởng, không phân bón, thuốc trừ sâu tổng hợp. Tuy nhiên, ngoài việc giá thành cao thì các thức ăn này thường không đa dạng, phong phú về chủng loại nên chọn lựa khá hạn chế. Tránh các thực phẩm biến đổi gene (Genetically modified organism – GMO), loại thức ăn này được bán phổ biến ở Canada và Mỹ, trong khi đó Châu Âu khá dè dặt.

Nói thêm một chút về việc chọn mua đồ ăn cho bé ở VN. Thức ăn làm sẵn như các loại bột ngũ cốc, bánh quy, đồ ăn đóng hộp thì cũng có ở nhiều cửa hàng bán đồ nhập khẩu, song thực sự HA ko tin lắm vào chất lượng hàng hóa ở đây. Đã có lần người nhà HA mua thử bột ngũ cốc Blédine ở một trong những cửa hàng bán đồ xách tay uy tín nhất của HN, song khi về mới phát hiện ra gói giấy ở trong đã bị mở. Tất nhiên, hộp ngũ cốc đó bị vứt vào sọt rác. Cái gì chứ thức ăn cho trẻ em thì chuyện an toàn phải đặt lên hàng đầu. Đừng quan niệm hàng đắt, hàng ngoại mới là tốt. Ở VN thì quan trọng là hãng có uy tín (kể cả hãng của VN) và được kiểm duyệt an toàn. Ngoài việc có người nhà mang đồ từ nước ngoài về cho thì mọi người nên mua hàng VN chất lượng cao hoặc hàng của công ty lớn nước ngoài chi nhánh VN (nestlé VN chẳng hạn), hay hàng nhập khẩu nhưng ở các siêu thị lớn, nhớ để ý vấn đề hạn dùng. Đồ ăn sống cũng thế, ở các siêu thị lớn, đồ ăn tươi ngon và tương đối đảm bảo hơn so với ở chợ. HA đặc biệt thích Metro vì ở đây rau củ quả, thịt cá rất tươi, giết mổ và bảo quản đảm bảo, các loại thịt được đóng gói thành từng phần riêng biệt giống nước ngoài nên khá tiện dụng (lườn gà, đùi gà, filet bò, thăn lợn, trứng cá …), lại có nhiều đồ nhập khẩu (phomát, bơ, sữa…).

–        Luôn nhớ đến cụm từ « xà phòng + nước nóng » khi chuẩn bị đồ ăn cho bé :

+ Thức ăn phải được rửa thật kỹ trước khi chế biến.

+ Luôn rửa sạch tay bằng xà phòng và nước ấm trước khi bắt đầu làm đồ ăn cho bé hoặc cho bé ăn.

+ Toàn bộ vật dụng chế biến, bảo quản thức ăn phải được rửa sạch sẽ bằng xà phòng và nước nóng trước và sau mỗi lần sử dụng. Người phương Tây có thói quen rất hay mà HA học được từ hồi còn ở Pháp là sau khi rửa dụng cụ nấu ăn, nếu không có máy sấy thì bao giờ cũng phải lau thật khô tất cả bằng khăn sạch rồi cất vào tủ chứ không được để ẩm ướt chờ tự khô.

+ Đặc biệt cần tránh lây nhiễm chéo (cross-contamination) bằng cách sử dụng dụng cụ cắt tỉa (dao, kéo, thớt), chế biến (nồi niêu soong chảo) và bảo quản (các loại hộp, túi) riêng biệt cho thức ăn sống và chín. Bàn tay cũng là nguồn lây nhiễm quan trọng, vì thế luôn rửa tay với xà phòng sau khi làm đồ sống, trước khi làm đồ chín.

–        Vitamin mất đi chủ yếu trong quá trình bảo quản trước khi đưa vào chế biến (từ lúc hái đến khi nấu) và trong quá trình nấu chứ không phải khi đông lạnh. Vì vậy, để hạn chế thấp nhất sự thất thoát vitamin, mọi người chú ý :

+  Chọn thức ăn tươi ngon và đưa vào nấu ngay sau khi mua.

+  Tránh ngâm lâu thức ăn trước khi nấu.

+  Chỉ nấu những thức ăn khi cần thiết (ví dụ quả chín như chuối, bơ, dứa … không cần nấu).

+  Rau và trái cây để nguyên quả hoặc cắt miếng to khi nấu.

+  Ưu tiên 3 phương pháp sau: hấp, luộc trong rất ít nước hoặc dùng lò vi sóng.

+  Tránh nấu quá chín thực phẩm một cách không cần thiết.

–        Không sử dụng gia vị, nhất là muối và đường khi chuẩn bị đồ ăn cho bé để tránh làm hại đến thận và răng của bé, cũng như giúp bé biết được mùi vị tự nhiên của thực phẩm.

–        Nhanh chóng xay nhỏ thức ăn chín đến độ thô thích hợp.

Bảo quản :

–        Đổ thức ăn xay nhỏ vào khay đá hoặc hộp chuyên dùng để đông lạnh thực phẩm (loại không chứa BPA), bọc kín bằng màng bọc thực phẩm hoặc nắp đậy. Trước khi dùng nhớ đo lượng chất lỏng chứa trong mỗi ô/hộp để điều chỉnh lượng thức ăn cho vào mỗi ô phù hợp với khẩu phần ăn của trẻ theo độ tuổi.

–        Lập tức cho vào tủ lạnh để làm mát. Sau đó cho vào tủ đá chỗ sâu nhất, tránh xa cửa tủ trong 8-12h để cấp đông.

–        Khi thức ăn đã đông, gỡ khỏi khay đá và cho vào túi nilông loại chuyên dùng để đựng thức ăn (túi ziploc). Ép hoặc hút không khí bằng ống hút rồi đóng chặt túi, như vậy sẽ hạn chế sự xâm nhập của oxy làm thay đổi kết cấu thức ăn, hay tạo ra lớp đá xốp boc bên ngoài. Ghi các thông tin sau lên túi : tên thức ăn, ngày nấu và lượng thịt/cá (nói chung là chất đạm) trong mỗi viên để về sau tiện sử dụng. Nhanh chóng cất lại vào ngăn đá.

–        Thời gian bảo quản các thức ăn nấu chín này tùy thuộc vào thành phần của chúng. Cụ thể :

Thức ăn Tủ lạnh Ngăn đá tủ lạnh Tủ đông
Rau   và trái cây 2-3   ngày 6   tháng 8   tháng
Các   món chứa thịt, cá, trứng 1-2   ngày 1   tháng 2   tháng
Các   món chứa sữa 1-2   ngày 1   tháng 1.5   tháng
Đậu   phụ và các loại đậu đỗ khác 2-3   ngày 2 tháng 3   tháng

Rã đông :

–        Có 3 cách an toàn để rã đông thực ăn của bé : Đun nhẹ trong soong ; chưng nước ấm hoặc dùng chế độ rã đông của lò vi sóng.

–        Không bao giờ được cấp đông lại thức ăn đã rã đông.

–        Không rã đông ở nhiệt độ phòng, ngược lại có thể để thức ăn xuống ngăn mát tủ lạnh vài giờ trước lúc cho bé ăn.

–        Luôn quấy đều và kiểm tra nhiệt độ thức ăn bằng cách nhỏ một ít lên cổ tay mình trước khi cho bé ăn.

Chú ý khi sử dụng lò vi sóng:

–        Mỗi loại thức ăn có thời gian rã đông khác nhau trong lò vi sóng. Vì thế nên làm từ từ, kiểm tra nhiệt độ dần dần trước khi tiếp tục, tránh để thức ăn quá nóng hoặc chín thêm.

–        Đặc điểm của lò vi sóng là làm nóng bằng điểm nhiệt (hot spot) nên nhiệt độ phân bố không đều, có thể có những điểm rất nóng và rất lạnh. Vì vậy luôn luôn quấy đều thức ăn sau khi làm nóng bằng lò vi sóng, rồi để nguội ít nhất 1 phút và kiểm tra lại nhiệt độ trước khi cho bé ăn.

Về nhiệt độ thức ăn của bé, có một vài lưu ý nho nhỏ thế này :

–        Nên tập cho bé ăn ở các nhiệt độ khác nhau : ấm, mát hoặc nhiệt độ thường. Một phần như vậy sẽ kích thích được vị giác và xúc giác của bé, giúp bé có cảm nhận khác nhau về mùi vị thức ăn khi ở nhiệt độ khác nhau. Phần nữa là giúp bé dễ dàng thích nghi với mọi điều kiện nhiệt độ, bé sẽ không thấy khó chịu nếu thức ăn không được làm nóng/lạnh.

–        Trái cây khi rã đông rất khó kiểm soát nhiệt độ, hay bị ấm nóng khiến bé không thích. Tốt nhất nên rã đông vừa phải để trái cây vẫn còn xốp, lạnh. Như vậy bé sẽ thích ăn hơn.

–         Đậu phụ thì ngược lại, trẻ con thường thích ăn ấm hơn lạnh.

g. Vấn đề an toàn khi cho trẻ ăn dặm :

–        Luôn có người lớn giám sát trẻ khi ăn uống, kể cả khi trẻ tự cầm bình bú sữa. Tránh các vật dụng dùng để cố định bình sữa cho trẻ bú (propped bottle).

–        Không đưa cho trẻ các thức ăn nhỏ, cứng và tròn như : nho, các loại hạt (lạc, hạt hướng dương, hạt cười…), kẹo cứng, vv vì những thứ này có thể làm trẻ hóc.

–        Không cho trẻ ăn các thứ trơn hoặc dính như bơ đậu phộng, bánh dày.

–        Tránh các vật cứng, nhọn như xương, các loại thức ăn xiên que.

(Còn nữa)

2 thoughts on “Ăn dặm kiểu Canada

    • Thong tin chi tiet an dam tung giai doan ban vao cac muc nho (thang thu 7, thang thu 8-9…) trong “An dam kieu Canada” de xem nhe!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s